Mục lục
- Phiếu thông số túi khí chèn hàng gồm những chỉ số nào?
- Chỉ số chịu lực AAR (Level) nói lên điều gì?
- Khoảng trống tiêu chuẩn và khe tối đa (Max Void) đọc thế nào?
- Tính sức chặn của túi khí theo CTU Code như thế nào?
- Lực nén tĩnh và lực nén động khác nhau ra sao?
- Nhiệt độ ảnh hưởng thế nào đến áp suất túi khí?
- Câu hỏi thường gặp về chỉ số kỹ thuật túi khí chèn hàng
- Áp suất làm việc và áp suất nổ của túi khí khác nhau thế nào?
- Túi khí cấp độ AAR nào phù hợp với hàng đi biển?
- Túi khí 100 x 180 cm dùng cho khe tối đa bao nhiêu?
- Con số 2,0 đến 3,5 kg trên phiếu thông số có phải áp suất bơm túi không?
- Vì sao khe càng rộng thì túi khí càng giữ hàng kém?
- Ruột PA và ruột PE của túi khí khác nhau thế nào?
- Liên hệ tư vấn kỹ thuật và mua túi khí chèn hàng
- Nguồn tham khảo
Nội dung được ICD xem xét và cập nhật - Tuần 44/2026
Năm chỉ số kỹ thuật cần đọc trên phiếu thông số của túi khí chèn hàng là: cấp độ chịu lực (Level), áp suất làm việc và áp suất nổ, kích thước túi phẳng cùng khe trống tối đa, vật liệu vỏ và ruột, và loại van. Ví dụ túi giấy Kraft cấp 1 trong catalogue của ICD Việt Nam làm việc ở 0,2 bar (2,9 PSI), nổ ở 9,1 PSI, cỡ 80 x 120 cm dùng cho khe tối đa 40 cm.
Túi khí chèn hàng là đệm khí đặt vào khe giữa các kiện hàng trong container, xe tải hay toa tàu, bơm căng để ép chặt khối hàng. Tôi là Lê Văn Thăng, làm vật tư đóng gói ở ICD Việt Nam từ năm 2011. Khách hỏi tôi nhiều nhất không phải giá mà là “mấy con số này nghĩa là gì”: vì sao áp suất bơm thấp hơn áp suất nổ nhiều thế, Level 1 với Level 3 khác gì, túi 100 x 180 cm sao lại chỉ dùng cho khe 60 cm. Bài này đi lần lượt từng chỉ số, kèm cách tính sức chặn theo CTU Code để bạn tự kiểm tra túi có đủ giữ hàng hay không.
Phiếu thông số túi khí chèn hàng gồm những chỉ số nào?
Một phiếu thông số đầy đủ có khoảng mười dòng, nhưng chỉ năm nhóm quyết định túi có giữ được hàng hay không. Bảng dưới chép nguyên các dòng trong catalogue túi giấy Kraft và túi vải PP dệt của ICD Việt Nam, kèm cách đọc từng dòng.
| Dòng trên phiếu | Túi giấy Kraft | Túi vải PP dệt | Đọc thế nào |
|---|---|---|---|
| Cấp độ (Level) | Level 1 | Level 0 đến 5 | Cấp càng cao, áp suất làm việc và áp suất nổ càng lớn, túi chịu khối hàng nặng hơn |
| Áp suất làm việc | 2,9 PSI (0,2 bar, 20 kPa) | Từ 2,0 PSI (Level 0) đến 8,0 PSI (Level 5) | Mức bơm khuyến nghị khi đặt túi trong khe |
| Áp suất nổ | 9,1 PSI | Trên 6,0 PSI với Level 1 | Mức túi vỡ khi thử; dùng để tính sức chặn theo CTU Code |
| Sức nén | 15.000 lbs | Theo cấp | Con số thử của nhà sản xuất, không phải tải trọng hàng được phép |
| Kích thước | Rộng 50 đến 120 cm | Rộng 60 đến 120 cm, dài tuỳ chọn | Kích thước túi phẳng, chưa bơm |
| Vỏ ngoài | Giấy Kraft ghép màng nhựa | Vải PP dệt | Quyết định khả năng chịu cứa, chịu ẩm |
| Ruột | PA và PE | PA và PE | Lớp giữ khí; PA giúp màng dai, ít thấm khí hơn PE đơn |
| Van | Van Proair hoặc van thường | Van Proair hoặc van thường | Quyết định tốc độ bơm và loại súng bơm |
| Áp suất nguồn khí | 2,0 đến 3,5 kg | 2,0 đến 3,5 kg | Áp suất máy nén cấp cho súng bơm, không phải áp suất trong túi |
| Chứng nhận | AAR, SGS, MSDS | AAR, SGS, MSDS | Hỏi bản chứng nhận ghi đúng mã túi bạn mua |
Dòng hay bị đọc nhầm nhất là “áp suất nguồn khí 2,0 đến 3,5 kg”. Đây là áp suất khí nén từ máy nén đưa vào súng bơm, cao hơn nhiều so với mức cần có trong túi. Nếu ai đó lấy con số này làm áp suất bơm túi thì túi giấy cấp 1 sẽ vỡ, vì áp suất nổ của nó chỉ khoảng 0,63 bar. Súng bơm có đồng hồ và van giảm áp chính là thứ hạ áp suất nguồn xuống mức làm việc.

Chỉ số chịu lực AAR (Level) nói lên điều gì?
Cấp độ AAR là thang phân loại túi khí của Hiệp hội Đường sắt Hoa Kỳ, nêu trong tài liệu GIB số 9 về túi khí chèn hàng. Thang này dùng cho hàng đi toa tàu và hàng intermodal trên đường sắt Bắc Mỹ, nơi toa tàu va nhau khi dồn toa (shunting). Mỗi cấp gắn với kiểu khe và tổng khối lượng hàng trong toa, kèm mức áp suất thử.
Nhiều tài liệu gọi AAR là chuẩn bắt buộc cho mọi hình thức vận chuyển; nói vậy là quá rộng. AAR bắt buộc với hàng đi đường sắt Bắc Mỹ. Với hàng đi biển và đường bộ, căn cứ phổ biến là CTU Code của IMO, ILO và UNECE, tính sức chặn của túi theo lực mà khối hàng tác động (xem mục 4). Chứng nhận AAR vẫn có ích ở chỗ nó cho biết túi đã qua thử nghiệm theo một chuẩn công khai.
| Cấp | Ứng dụng theo AAR | Catalogue ICD Việt Nam (làm việc / nổ) |
|---|---|---|
| Level 0 (ZERO) | Không có trong thang AAR | Dưới 0,1 bar / 0,4 bar |
| Level 1 | Khe ngang, chủ yếu hàng intermodal | Dưới 0,2 bar / 0,6 bar |
| Level 2 | Hàng trong toa tới 75.000 lbs (khoảng 34 tấn) | Dưới 0,4 bar / 1,2 bar |
| Level 3 | Tới 160.000 lbs (khoảng 72,6 tấn) | Dưới 0,55 bar / 1,7 bar |
| Level 4 | Tới 216.000 lbs (khoảng 98 tấn) | Dưới 0,7 bar / 2,0 bar |
| Level 5 | Cuộn giấy nằm ngang, khe giữa bề mặt trụ | Theo mã túi PP dệt (làm việc 8,0 PSI) |
Đọc bảng này theo chiều ngang sẽ thấy một quy luật: ở mọi cấp, áp suất nổ cao khoảng ba lần áp suất làm việc. Khoảng dư đó dành cho hai việc: xung lực khi container bị va, và phần áp suất tăng thêm khi container nóng lên. Vì vậy chọn cấp cao hơn không có nghĩa là bơm cao hơn cho chắc; mỗi cấp có mức bơm riêng, bơm vượt mức là tự ăn vào khoảng dư an toàn.
Khoảng trống tiêu chuẩn và khe tối đa (Max Void) đọc thế nào?
Mỗi cỡ túi có một khe tối đa do nhà sản xuất quy định, và CTU Code yêu cầu làm đúng hướng dẫn đó. Lý do nằm ở hình học: túi phẳng rộng 80 cm khi bơm căng chỉ còn rộng khoảng 50 đến 55 cm, vì vải hoặc giấy phải “nhường” chiều ngang để phồng lên. Khe càng rộng, túi càng phồng tròn, phần mặt phẳng áp vào hàng càng nhỏ.
Bảng cỡ túi, chiều rộng sau bơm và khe tối đa
| Cỡ túi phẳng | Rộng sau bơm | Khe tối đa |
|---|---|---|
| 50 x 100 cm | 30 - 35 cm | 25 cm |
| 80 x 120 cm / 80 x 150 cm | 50 - 55 cm | 40 cm |
| 90 x 120 cm / 90 x 150 cm / 90 x 180 cm | 60 - 65 cm | 50 cm |
| 100 x 120 cm đến 100 x 220 cm | 70 - 75 cm | 60 cm |
| 120 x 180 cm / 120 x 240 cm | 85 - 90 cm | 70 cm |
Bảng trên trích trang sản phẩm túi khí giấy Kraft của ICD Việt Nam. Chiều dài cũng co lại khi bơm: túi 80 x 120 cm còn dài khoảng 105 đến 110 cm, túi 120 x 240 cm còn khoảng 220 đến 225 cm. Khi đo khe, hãy dùng chiều cao sau bơm để chắc túi không cao hơn mép hàng.
Khoảng trống tiêu chuẩn
Khoảng trống tiêu chuẩn là khe có chiều rộng đồng đều từ trên xuống dưới và nằm trong khe tối đa của cỡ túi bạn dùng. Trong khe như vậy, túi phồng đều và áp mặt phẳng lớn nhất vào hàng, nên lực ép dàn ra rộng. Cách dễ nhất để có khe tiêu chuẩn là tính từ lúc lên sơ đồ xếp hàng: xếp các dãy kiện sao cho khe dồn về một hoặc hai vị trí, thay vì rải nhiều khe nhỏ khắp container.

Khoảng trống không chuẩn và cách xử lý
Khoảng trống không chuẩn là khe rộng hơn khe tối đa, khe hẹp hơn mức túi kịp phồng, hoặc khe lồi lõm không đều. Khe quá rộng nên thu hẹp bằng vật liệu đệm cứng như pallet rỗng, tấm carton dày hay tấm giấy tổ ong rồi mới đặt túi; không xếp chồng nhiều túi để lấp, vì chỗ các túi tiếp giáp nhau là điểm yếu. Hướng dẫn xếp hàng của hãng đường sắt Union Pacific cũng làm vậy: túi tiêu chuẩn cho khe 10 đến 30 cm, khe 30 đến 60 cm dùng túi vuông và lót tấm giấy tổ ong hai bên.

Khe lồi lõm, như khi chèn máy móc có nhiều chi tiết nhô ra, cần tạo mặt phẳng bằng ván ép hoặc tấm carton cứng ở hai bên túi. Tấm lót này vừa bắc cầu qua chỗ lõm để túi ép đều lên khối hàng, vừa che cạnh sắc. CTU Code dặn đúng việc này: bề mặt hàng gồ ghề phải được làm phẳng trước khi đặt túi. Theo kinh nghiệm của tôi, túi giấy Kraft chạm thẳng vào chi tiết kim loại sắc mà không có tấm lót rất dễ bị cứa rách khi tàu chạy.
Tính sức chặn của túi khí theo CTU Code như thế nào?
Theo CTU Code, sức chặn của túi khí bằng áp suất nổ nhân diện tích tiếp xúc nhân hệ số an toàn: 0,75 với túi dùng một lần và 0,5 với túi tái sử dụng. Diện tích tiếp xúc nhỏ hơn kích thước túi vì mép túi phồng tròn, và được tính bằng (rộng trừ 1,57 lần khe) nhân (cao trừ 1,57 lần khe). Công thức này cho thấy rõ vì sao khe rộng làm túi yếu đi.
Tôi tự tính vài trường hợp theo công thức đó, dùng túi giấy Kraft cấp 1 có áp suất nổ 9,1 PSI (khoảng 63 kPa) và hệ số 0,75. Kết quả làm tròn, chỉ để minh hoạ cách đọc, không thay cho tính toán của từng chuyến hàng.
| Túi phẳng | Khe | Diện tích tiếp xúc | Sức chặn ước tính |
|---|---|---|---|
| 80 x 120 cm | 10 cm | khoảng 0,67 m² | khoảng 32 kN |
| 80 x 120 cm | 30 cm | khoảng 0,24 m² | khoảng 11 kN |
| 100 x 180 cm | 30 cm | khoảng 0,70 m² | khoảng 33 kN |
Cùng một túi 80 x 120 cm, khe tăng từ 10 lên 30 cm làm sức chặn giảm còn khoảng một phần ba, dù khe 30 cm vẫn nằm trong khe tối đa 40 cm. Đổi sang túi 100 x 180 cm cho khe 30 cm thì sức chặn lại về khoảng 33 kN. Đây là lý do tôi khuyên chọn cỡ túi theo khe thực tế, không chọn theo thói quen một cỡ cho mọi container.
Sức chặn phải lớn hơn lực khối hàng tác động lên túi. Lực đó bằng khối lượng dãy hàng phía sau túi nhân gia tốc của phương tiện, trừ phần ma sát với sàn. CTU Code đưa gia tốc thiết kế như sau: đường bộ 0,8 g về phía trước, 0,5 g về phía sau và sang ngang; đường sắt 0,5 g (1,0 g với va chạm ngắn dưới 150 ms); đường biển sang ngang 0,5 g ở vùng A và 0,7 đến 0,8 g ở vùng B, C. Ví dụ dãy hàng 4 tấn đi đường bộ, chịu 0,5 g sang ngang, cần khoảng 20 kN chưa trừ ma sát; túi 80 x 120 cm trong khe 30 cm (khoảng 11 kN) không đủ, còn trong khe 10 cm thì đủ.
Các loại lực tác động lên túi khí trong container
| Loại lực | Nguồn phát sinh | Mối nguy |
|---|---|---|
| Lực va chạm (Impact) | Va chạm khi dồn toa tàu, cẩu hạ và xếp dỡ ở cảng | Phá cấu trúc kiện hàng, làm rách túi |
| Lực quán tính (Surge) | Phanh gấp, tăng tốc đột ngột của xe tải hoặc tàu | Hàng dịch dọc container, dồn lực lên cửa |
| Lực lắc ngang (Sway) | Sóng lớn, xe vào cua, đường gồ ghề | Hàng nghiêng đổ, ép mạnh nhất lên túi |
| Lực rung (Vibration) | Rung động liên tục của động cơ và mặt đường | Dây chằng lỏng dần, hàng xê dịch từng chút |
Bốn loại lực này không tác động riêng lẻ mà cộng dồn trong cả hành trình. Rung kéo dài không làm túi vỡ ngay nhưng mài mòn vỏ túi ở điểm tiếp xúc với cạnh hàng, rồi một cú phanh gấp sau đó mới làm túi rách. Vì vậy chỉ số chịu lực cần đọc cùng vật liệu vỏ, không đọc riêng.
Lực nén tĩnh và lực nén động khác nhau ra sao?
Lực nén tĩnh là áp lực ổn định túi tạo ra lên hàng khi container đứng yên hoặc chạy đều; lực nén động là xung lực mạnh, đột ngột khi phương tiện va, phanh hay lắc. Túi phải giữ được lực tĩnh suốt nhiều tuần, và hấp thụ được lực động trong một khoảnh khắc. Hai việc này do hai lớp khác nhau của túi đảm nhận.
Lực nén tĩnh và vai trò của ruột túi
Lực nén tĩnh đến từ áp suất trong túi đẩy vào hai mặt hàng, cộng với áp lực của các khối hàng xung quanh. Muốn giữ lực này trong hành trình dài ngày, túi phải kín khí: ruột màng PA ghép PE và van đóng kín là hai yếu tố chính. PA giúp màng dai và ít thấm khí hơn PE đơn, nên túi có ruột PA giữ áp suất lâu hơn. Túi mất dần áp suất do rò ở van hay màng sẽ mất lực ép tĩnh, khối hàng có chỗ lấy đà và mỗi lần dồn lại mạnh hơn.

Van: chỉ số ít người đọc
Catalogue ICD Việt Nam ghi hai loại van: van thường cỡ 10 mm và van bơm nhanh cỡ 30 mm, thời gian bơm của hai loại theo tỷ lệ khoảng 3 so với 1. Van lớn rút ngắn thời gian bơm mỗi container nhưng cần súng bơm đúng loại; súng không khớp van dễ chọc hỏng màng van và gây rò. Khi đặt mua, hãy ghi rõ loại van để kho chuẩn bị súng bơm tương ứng.

Lực nén động và vai trò của vỏ túi
Khi có xung lực, túi lún lại một phần để hấp thụ rồi phồng trở lại, giống bộ giảm chấn. Lúc đó vỏ ngoài chịu căng mạnh nhất, nhất là ở chỗ tiếp xúc với cạnh hàng. Vỏ giấy Kraft ghép màng nhựa phù hợp với hàng carton, hàng pallet có tấm lót; vỏ vải PP dệt chịu cứa và chịu mài tốt hơn, dùng được nhiều lần, có dải cấp độ từ Level 0 đến Level 5 trong catalogue.
Không phải cứ hàng nặng là chỉ dùng được PP dệt; điểm mấu chốt là trong catalogue của ICD Việt Nam, túi giấy Kraft hiện chỉ có cấp 1, nên nhu cầu cấp cao hơn thì chọn túi PP dệt. Với hàng giá trị cao hoặc dễ hỏng, lời khuyên của tôi là tính sức chặn theo mục 4 cho tuyến khó nhất của chuyến hàng, rồi chọn cấp và cỡ túi theo kết quả đó, thay vì chọn theo cảm giác.

Nhiệt độ ảnh hưởng thế nào đến áp suất túi khí?
Khí trong túi nóng lên thì áp suất tăng. Tôi tự tính theo định luật khí, giả sử túi không giãn thêm: túi bơm 0,2 bar ở 20 độ C, khi container nóng lên 50 độ C thì áp suất lên khoảng 0,32 bar, lên 60 độ C thì khoảng 0,37 bar. Thực tế túi còn phồng thêm một chút nên mức tăng thấp hơn, nhưng xu hướng là vậy.
Với túi giấy cấp 1 có áp suất nổ khoảng 0,63 bar, mức 0,37 bar vẫn còn cách xa ngưỡng vỡ. Nếu người đóng hàng bơm dư lên 0,4 bar cho chắc, cũng container ấy nóng lên 60 độ C sẽ đẩy áp suất lên khoảng 0,6 bar, gần như chạm ngưỡng nổ. Đó là lý do mỗi cấp chỉ nên bơm đúng mức làm việc của nó; khoảng dư giữa áp suất làm việc và áp suất nổ là để dành cho nhiệt độ và va chạm.
Câu hỏi thường gặp về chỉ số kỹ thuật túi khí chèn hàng
Áp suất làm việc và áp suất nổ của túi khí khác nhau thế nào?
Áp suất làm việc là mức bơm khuyến nghị khi đặt túi vào khe, áp suất nổ là mức túi vỡ khi thử. Theo catalogue ICD Việt Nam, túi giấy Kraft cấp 1 làm việc ở 0,2 bar (2,9 PSI) và nổ ở 9,1 PSI, cao khoảng ba lần. Khoảng dư đó dành cho va chạm và nhiệt độ, không phải để bơm thêm.
Túi khí cấp độ AAR nào phù hợp với hàng đi biển?
AAR là thang của đường sắt Bắc Mỹ, không quy định cấp tối thiểu cho hàng đi biển. Với đường biển, nên tính sức chặn theo CTU Code: áp suất nổ nhân diện tích tiếp xúc nhân hệ số an toàn (0,75 túi dùng một lần, 0,5 túi tái sử dụng), rồi so với lực mà dãy hàng tác động lên túi.
Túi khí 100 x 180 cm dùng cho khe tối đa bao nhiêu?
Theo trang sản phẩm túi khí giấy Kraft của ICD Việt Nam, túi 100 x 180 cm rộng khoảng 70 đến 75 cm sau khi bơm và dùng cho khe tối đa 60 cm. Túi 80 x 120 cm dùng cho khe tối đa 40 cm, túi 120 x 240 cm cho khe tối đa 70 cm.
Con số 2,0 đến 3,5 kg trên phiếu thông số có phải áp suất bơm túi không?
Không. Đó là áp suất khí nén từ máy nén cấp cho súng bơm. Áp suất trong túi phải theo mức làm việc của từng cấp, ví dụ 0,2 bar với túi giấy cấp 1. Súng bơm có đồng hồ giúp dừng đúng mức này.
Vì sao khe càng rộng thì túi khí càng giữ hàng kém?
Vì túi phồng tròn hơn và mặt phẳng áp vào hàng nhỏ lại. Theo cách tính của CTU Code, mỗi chiều túi bị trừ 1,57 lần bề rộng khe. Tôi tự tính: túi 80 x 120 cm trong khe 10 cm có sức chặn khoảng 32 kN, trong khe 30 cm chỉ còn khoảng 11 kN.
Ruột PA và ruột PE của túi khí khác nhau thế nào?
Ruột là lớp màng giữ khí bên trong vỏ. Màng ghép PA với PE dai hơn và ít thấm khí hơn màng PE đơn, nên túi giữ áp suất lâu hơn trong hành trình dài. Catalogue ICD Việt Nam ghi cả ruột PA và PE cho túi giấy Kraft và túi vải PP dệt.
Liên hệ tư vấn kỹ thuật và mua túi khí chèn hàng
ICD Việt Nam cung cấp túi khí giấy Kraft, túi vải PP dệt và súng bơm, kèm phiếu thông số cho từng mã túi. Gửi cho chúng tôi kích thước khe, khối lượng hàng và tuyến vận chuyển, đội ngũ tư vấn sẽ đề xuất cấp độ và cỡ túi. Giá: liên hệ báo giá.
Công ty TNHH Sản xuất Công nghiệp ICD Việt Nam
- Miền Bắc (kho Hà Nội): Tầng 3, Tòa nhà Thăng Long A1, Thôn Bầu, Xã Thiên Lộc, Hà Nội - 0983 797 186 / 090 345 9186 / 090 5859 186.
- Xưởng miền Nam: 551/212 Lê Văn Khương, Tân Thới Hiệp, Quận 12, TP.HCM - 098 6784 186.
- Email: sales@icdvietnam.com.vn. Zalo: Chat Zalo.
Nguồn tham khảo
- Chỉ số kỹ thuật của túi khí chèn hàng (dunnage bag) - International Safe Transit Association (ISTA).
- Association of American Railroads (AAR) - General Information Bulletin No. 9 về túi khí chèn hàng.
- IMO/ILO/UNECE Code of Practice for Packing of Cargo Transport Units (CTU Code), MSC.1/Circ.1497 - gia tốc thiết kế, Phụ lục 7 mục 2.3 (túi khí), Appendix 4 (hệ số an toàn, diện tích tiếp xúc).
- Union Pacific - Air Bag Placement and Usage Guidelines.
- Catalogue túi khí chèn hàng ICD Việt Nam (bảng cấp độ, thông số túi giấy Kraft và túi PP dệt, van 10 mm và 30 mm) và bảng khe tối đa trên trang sản phẩm túi khí giấy Kraft của ICD Việt Nam, tra cứu tháng 10/2026.
