Skip to content
Túi khí chèn hàng

Túi khí chèn hàng là gì? Phân tích cơ chế cố định hàng hóa container

17/10/2026 - Lê Văn Thăng

Túi khí chèn hàng là gì? Đây là một công cụ đóng gói và bảo vệ hàng hóa thiết yếu, là giải pháp chèn lót hàng hóa được sử dụng để lấp đầy các khoảng trống.

Túi khí chèn hàng là gì? Phân tích cơ chế cố định hàng hóa container

Nội dung được ICD xem xét và cập nhật - Tuần 43/2026

Túi khí chèn hàng (dunnage bag) là túi rỗng đặt vào khoảng trống giữa các kiện hàng trong container, xe tải hoặc toa tàu, rồi bơm khí nén để ép chặt khối hàng, không cho hàng xô dịch, nghiêng đổ khi xe phanh, tàu lắc hay toa tàu dồn. Túi thông dụng bằng giấy Kraft bơm ở khoảng 0,2 bar và nổ ở khoảng 0,6 bar; túi dùng cho đường sắt Bắc Mỹ phải đạt cấp độ do Hiệp hội Đường sắt Hoa Kỳ (AAR) quy định.

Tôi là Lê Văn Thăng, làm vật tư đóng gói ở ICD Việt Nam từ năm 2011. Bài này đi theo đúng trình tự tôi vẫn giải thích cho khách lần đầu dùng túi khí: túi làm việc thế nào, lực ép đến từ đâu, cấu tạo có gì, chọn loại nào và đọc cấp độ AAR ra sao. Phần nào có con số, tôi ghi nguồn ở cuối bài để bạn tự đối chiếu.

0,2 bar
Áp suất làm việc thường gặp của túi Kraft cấp 1 (catalogue ICD Việt Nam)
Level 1 - 5
Các cấp độ AAR, từ hàng intermodal đến cuộn giấy nằm ngang
0,75 / 0,5
Hệ số an toàn CTU Code cho túi dùng 1 lần / túi tái sử dụng

Túi khí chèn hàng là gì?

Túi khí chèn hàng là vật tư chèn lót dạng túi rỗng, được đặt vào khe trống sau khi hàng đã xếp xong rồi mới bơm khí nén cho căng. Khi căng, túi ép vào hai bề mặt đối diện, biến các kiện hàng rời thành một khối dựa vào nhau và dựa vào vách phương tiện, để khối đó chống lại lực tác động suốt hành trình.

Túi khí chèn hàng giấy Kraft đặt giữa các kiện hàng
Túi khí giấy Kraft: vỏ giấy chịu lực, ruột màng nhựa giữ khí, van bơm ở một góc túi.

Sau nhiều năm làm với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tôi thấy chi phí khó chịu nhất thường không phải cước vận chuyển mà là chi phí hư hỏng: hàng móp, vỡ, phải làm lại chứng từ, mất uy tín với người mua. Một khối hàng chỉ cần xô vài centimet khi phanh gấp là đủ để thùng ở hàng ngoài cùng đè lên nhau. Vì vậy tôi coi túi khí là một khoản phòng ngừa, không phải một món vật tư phụ.

Vai trò của túi khí trong vận tải đa phương thức

Vai trò chính của túi khí là cố định khối hàng, sau đó mới đến giảm chấn và bảo vệ bề mặt. Cố định là quan trọng nhất ở đường biển và đường sắt, nơi lực tác động lặp lại hàng nghìn lần trong một chuyến. Túi lấp kín khe trống rồi ép các kiện vào nhau và vào vách container, nên hàng không còn chỗ để trượt ngang hay dọc.

Vai trò thứ hai là hấp thụ một phần xung lực. Khi xe vào cua, phanh hoặc tàu gặp sóng, khí trong túi bị nén lại trong chốc lát rồi đẩy ngược ra, giống một tấm đệm đàn hồi đặt giữa hai kiện. Vai trò thứ ba là ngăn va đập trực tiếp giữa hàng với hàng, hàng với vách, nguyên nhân hàng đầu gây móp méo thùng carton và trầy xước kiện gỗ.

Túi khí chèn hàng bơm căng giữa hai dãy hàng trong container
Túi khí bơm căng giữa hai dãy kiện hàng trong container, ép cả khối dựa vào vách.

Túi khí chèn hàng hoạt động theo cơ chế nào?

Túi khí giữ hàng bằng lực ép: áp suất trong túi nhân với diện tích túi tiếp xúc với mặt hàng. Túi to hay nhỏ không quyết định tất cả; điều quyết định là lực ép đó có lớn hơn lực mà khối hàng muốn xô đi hay không, và túi có chịu nổi lực dội ngược khi hàng dồn vào nó hay không.

Một câu tôi được hỏi rất thường xuyên là “sao túi cấp 1 phải bơm đủ 0,2 bar, bơm nhẹ hơn cho đỡ nổ có được không”. Câu trả lời nằm ở chỗ lực tác động trên đường lớn hơn nhiều so với lúc hàng đứng yên. Bộ quy tắc CTU Code của IMO, ILO và UNECE lấy các mức gia tốc thiết kế sau để tính chằng buộc:

Phương thức Về phía trước Về phía sau Sang ngang
Đường bộ 0,8 g 0,5 g 0,5 g
Đường sắt 0,5 g (1,0 g với va chạm ngắn dưới 150 ms) 0,5 g (1,0 g với va chạm ngắn) 0,5 g
Đường biển, vùng A 0,3 g 0,3 g 0,5 g
Đường biển, vùng B / C 0,3 g 0,3 g 0,7 g / 0,8 g

Đọc bảng theo cách đơn giản: khi xe tải phanh gấp, khối hàng 10 tấn có thể bị đẩy về trước với lực tương đương 8 tấn đặt nằm ngang. Ma sát giữa hàng và sàn gánh bớt một phần, phần còn lại phải do vách, thanh chèn hoặc túi khí chịu. Bơm thiếu áp suất thì túi không đủ cứng, hàng có khoảng để lấy đà, và mỗi lần dồn lại mạnh hơn lần trước.

Lực ép tĩnh và lực ép động khác nhau thế nào?

Lực ép tĩnh là lực túi tạo ra ngay sau khi bơm đúng áp suất khuyến nghị, ví dụ khoảng 0,2 bar với túi giấy cấp 1. Lực này tạo ma sát và độ cứng ban đầu, giữ khối hàng không xê dịch khi container được nâng, hạ hay xe bắt đầu chạy. Nó giống việc siết chặt dây trước khi đi.

Lực ép động xuất hiện khi hàng bị xô vào khoảng túi đang chiếm. Khí trong túi bị nén thêm, áp suất tăng lên tức thời và đẩy hàng ngược lại. Chính vì áp suất có thể vọt lên lúc này nên túi phải có áp suất nổ cao hơn áp suất làm việc vài lần. Theo bảng cấp độ trong catalogue của ICD Việt Nam, khoảng cách đó xấp xỉ ba lần ở mọi cấp, ví dụ cấp 2 làm việc dưới 0,4 bar và nổ ở 1,2 bar.

Dưới 0,4 bar
Áp suất làm việc túi cấp 2 theo catalogue ICD Việt Nam
1,2 bar
Áp suất nổ túi cấp 2, cao gấp khoảng ba lần
Bơm đúng mức
Không bơm dư: container nóng lên làm áp suất trong túi tăng thêm

Khe hở bao nhiêu thì dùng túi khí hiệu quả?

Khe hở phù hợp do nhà sản xuất túi quy định cho từng kích thước, và CTU Code yêu cầu làm theo hướng dẫn đó về áp suất bơm và khe tối đa. Lấy ví dụ một tài liệu công khai: hướng dẫn xếp hàng intermodal của hãng đường sắt Union Pacific dùng túi AAR cấp 1 loại tiêu chuẩn cho khe 4 đến 12 inch (khoảng 10 đến 30 cm), túi loại vuông cho khe 12 đến 24 inch (khoảng 30 đến 60 cm), và lót thêm tấm giấy tổ ong ở hai bên túi khi khe lớn hơn 12 inch.

Hai lỗi tôi hay gặp đều liên quan khe. Khe quá hẹp so với túi thì túi không phồng đủ, bơm tới áp suất mà diện tích ép thực tế vẫn nhỏ. Khe quá rộng thì túi phồng tròn như quả bóng, phần tiếp xúc phẳng với hàng co lại, lực ép giảm và túi dễ bị cạnh pallet cứa. Khe rộng nên thu hẹp bớt bằng tấm đệm hoặc kiện độn rồi mới đặt túi.

Độ phồng vừa đủ
Túi bơm đúng là túi căng, mặt túi áp phẳng vào hàng, ấn tay vẫn thấy hơi đàn hồi. Túi cứng như đá do bơm quá áp vừa có nguy cơ nổ khi nhiệt độ container tăng, vừa đè hỏng cạnh thùng carton.

Túi khí chèn hàng được cấu tạo như thế nào?

Một túi khí chèn hàng gồm ba phần: vỏ ngoài chịu lực, túi trong giữ khí và van bơm. Vỏ quyết định túi chịu được bao nhiêu lực và có bị cạnh hàng làm rách không; túi trong quyết định khí có giữ được suốt hành trình không; van quyết định bơm nhanh hay chậm và có xì hơi không.

Sơ đồ ba lớp vật liệu của túi khí chèn hàng
Ba lớp vật liệu trong tài liệu của ICD Việt Nam: màng PA 75 micron, vải dệt PP 70 gram và giấy Kraft cán màng 65 gram.

Lớp vỏ ngoài: chịu lực và chống rách

Vỏ ngoài có hai loại phổ biến. Vỏ giấy Kraft nhiều lớp được cán màng nhựa bên ngoài để chống ẩm nhẹ, giá hợp lý, hợp với hàng carton và hàng pallet thông thường; túi giấy thường dùng một lần. Vỏ vải PP dệt có các sợi đan chéo nhau nên dai, khó bị cạnh sắc làm thủng, và có thể xả khí để dùng lại khi vỏ và van còn nguyên.

Khi làm với khách hàng thép và giấy cuộn, tôi thường khuyên không nên tiếc phần chênh giá. Hàng có cạnh sắc và tải dồn vào một điểm như cuộn thép, cuộn giấy dễ cứa rách túi giấy, kể cả loại nhiều lớp. Túi PP dệt đắt hơn nhưng chịu cứa tốt hơn và dùng được nhiều lượt, nên tính trên mỗi chuyến thường không đắt như nhìn giá mua ban đầu.

Túi khí chèn hàng vỏ vải PP dệt
Túi khí vỏ vải PP dệt: chịu cứa tốt hơn túi giấy, dùng lại được khi vỏ và van còn nguyên.

Lớp túi trong: giữ khí và ổn định áp suất

Túi trong là lớp màng nhựa kín khí, làm từ PE hoặc màng ghép PA với PE. Lớp PA giúp màng dai và giữ khí tốt hơn PE đơn. Nên nhớ khí trong túi giãn nở theo nhiệt độ: container phơi nắng ở bãi nóng lên rõ rệt, áp suất trong túi tăng theo, nên bơm đúng mức khuyến nghị thay vì bơm dư cho chắc.

Van bơm và súng bơm

Sơ đồ so sánh van túi khí thường 10 mm và van bơm nhanh 30 mm
Sơ đồ van trong tài liệu của ICD Việt Nam: van thường 10 mm và van bơm nhanh 30 mm, thời gian bơm chênh khoảng 1:3.

Van bơm nhanh có đường kính lớn hơn van truyền thống nên bơm nhanh hơn, tiết kiệm thời gian khi đóng hàng tại kho hoặc bãi. Sơ đồ trên so van thường 10 mm với van bơm nhanh 30 mm, thời gian bơm chênh khoảng 1:3. Van có nắp hoặc cơ chế tự khoá khí khi rút súng bơm ra.

Súng bơm chuyên dụng nối với khí nén, nhiều loại có đồng hồ áp suất để biết lúc nào dừng. Không có đồng hồ thì người đóng hàng chỉ bơm theo cảm giác, và đó là lúc túi bị bơm thiếu (lực yếu) hoặc bơm thừa (dễ nổ). Tôi luôn khuyên khách mua kèm đồng hồ dù chỉ đóng vài container mỗi tháng.

Có những loại túi khí chèn hàng nào?

Túi khí chèn hàng chia theo vật liệu vỏ thành ba nhóm chính: túi giấy Kraft, túi vải PP dệt và túi khí chèn thùng carton. Hai nhóm đầu dùng để chèn khối hàng trong phương tiện vận tải; nhóm thứ ba là túi nhỏ chống sốc bên trong hộp, khác hẳn về công dụng. Bảng dưới tóm tắt theo catalogue của ICD Việt Nam.

Loại túi Vỏ ngoài Dùng cho Cấp độ theo catalogue
Túi giấy Kraft Giấy Kraft cán màng nhựa, ruột PA + PE Hàng carton, hàng pallet, đường bộ và đường biển thông thường Thông dụng là cấp 1 (làm việc 0,2 bar, nổ 9,1 PSI); cấp cao hơn hỏi theo mã
Túi vải PP dệt Vải PP dệt, ruột PA + PE Hàng nặng, cạnh sắc, cuộn thép, máy móc, hàng cần dùng lại túi Level 0 đến 5
Túi khí chèn thùng carton Màng PE/LLDPE mỏng Chống sốc trong hộp: thương mại điện tử, mỹ phẩm, đồ dễ vỡ Không xếp cấp AAR

Một điểm hay bị hiểu lầm: túi giấy không mặc định là “hàng nhẹ”, túi PP không mặc định là “hàng nặng”. Cấp độ chịu lực do kết cấu từng mã quyết định, nên khi đặt hàng hãy ghi rõ cấp độ cần dùng thay vì chỉ ghi vật liệu. Trong danh mục của ICD Việt Nam hiện có túi giấy Kraft 12 kích thước từ 50 x 100 đến 120 x 240 cm, túi PP dệt, túi khí chèn thùng carton bằng PE/LLDPE dày 20 đến 40 micron và súng bơm van Mega bơm ở 0,2 đến 0,8 bar.

Dây chuyền sản xuất túi khí chèn hàng
Sản xuất túi khí chèn hàng: mỗi lô được thử rơi, thử kéo và thử rung theo quy trình trong catalogue.

Cấp độ AAR của túi khí chèn hàng nghĩa là gì?

Cấp độ AAR là thang phân loại túi khí của Hiệp hội Đường sắt Hoa Kỳ, nêu trong tài liệu GIB số 9 về túi khí chèn hàng, dùng cho hàng đi toa tàu và hàng intermodal trên đường sắt Bắc Mỹ. Mỗi cấp gắn với kiểu khe và tổng khối lượng hàng trong toa, kèm áp suất bơm tối đa và áp suất nổ khi thử nghiệm.

Cấp Ứng dụng theo AAR Áp suất thử AAR (bơm tối đa / nổ) Catalogue ICD Việt Nam (làm việc / nổ)
Level 1 Khe ngang, chủ yếu hàng intermodal Không ghi trong bảng thử Dưới 0,2 bar / 0,6 bar
Level 2 Khe dọc, hàng trong toa tới 75.000 lbs (khoảng 34 tấn) 5 / 17 psig (0,34 / 1,17 bar) Dưới 0,4 bar / 1,2 bar
Level 3 Tới 160.000 lbs (khoảng 72,6 tấn) 8 / 25 psig (0,55 / 1,72 bar) Dưới 0,55 bar / 1,7 bar
Level 4 Tới 216.000 lbs (khoảng 98 tấn); cuộn giấy nằm ngang tới 190.000 lbs 10 / 30 psig (0,69 / 2,07 bar) Dưới 0,7 bar / 2,0 bar
Level 5 Khe dọc giữa bề mặt trụ, cuộn giấy nằm ngang 10 / 21 psig, thử ở khe 18 inch Theo mã túi PP dệt

Cấp 2 đến cấp 4 được thử ở khe 12 inch, cấp 5 thử ở khe 18 inch. Đối chiếu hai cột cuối có thể thấy áp suất làm việc và áp suất nổ trong catalogue của ICD Việt Nam khớp sát với mức thử của AAR ở từng cấp. Túi đã được AAR công nhận phải thử lại sau ba năm, và danh sách túi đạt chuẩn được AAR công bố công khai.

Có hai điều cần nói thẳng. Thứ nhất, AAR là quy định của ngành đường sắt Bắc Mỹ; hàng đi đường biển hay đường bộ ở Việt Nam không bắt buộc túi có cấp AAR. Thứ hai, với hàng xuất sang Mỹ mà container sẽ lên tàu hỏa nội địa, hãng đường sắt thường yêu cầu túi AAR trong phương án xếp hàng, nên người gửi hàng nên hỏi trước đơn vị vận chuyển để khỏi phải đóng lại ở cảng.

Bơm khí vào túi khí chèn hàng qua van bằng súng bơm
Bơm túi qua van bằng súng bơm khí nén: dừng khi đồng hồ chạm áp suất khuyến nghị của cấp túi.

Hàng đi đường biển chọn cấp độ thế nào?

Với hàng đi biển, nguyên tắc của CTU Code là túi phải có sức chặn lớn hơn lực mà khối hàng tác động lên nó. Sức chặn được tính bằng áp suất nổ nhân diện tích tiếp xúc nhân hệ số an toàn: 0,75 với túi dùng một lần và 0,5 với túi tái sử dụng. Diện tích tiếp xúc nhỏ hơn kích thước túi, vì mép túi phồng tròn; CTU Code tính bằng (rộng trừ 1,57 lần khe) nhân (cao trừ 1,57 lần khe).

Lấy ví dụ minh hoạ, tôi tự tính theo công thức đó: túi giấy 120 x 180 cm đặt trong khe 20 cm có diện tích tiếp xúc khoảng 0,89 x 1,49 = 1,32 m². Với áp suất nổ 9,1 PSI (khoảng 0,63 bar) và hệ số 0,75, sức chặn vào khoảng 61 kN, tương đương lực của chừng 6 tấn đặt nằm ngang. Nếu dãy hàng phía sau túi nặng 10 tấn và đi vùng biển cần tính 0,5 g sang ngang, lực ngang khoảng 49 kN chưa trừ ma sát, túi này đủ; với 0,8 g thì không đủ và cần túi cấp cao hơn hoặc chia khối hàng.

Không dùng túi khí sát cửa container
CTU Code dặn không dùng túi khí chèn khoảng trống ở cửa, trừ khi chắc chắn cửa không bị bật mạnh khi mở. Khe sát cửa nên chèn bằng thanh gỗ, khung chặn hoặc dây đai để người mở cửa ở cảng đến không bị hàng đổ vào người.

Chứng nhận và kiểm tra chất lượng

Catalogue sản phẩm của ICD Việt Nam ghi túi PP dệt có chứng nhận AAR, SGS và bảng an toàn hoá chất MSDS, và mỗi lô được thử rơi, thử kéo, thử rung. Khi hồ sơ của bạn cần nộp chứng nhận, hãy đề nghị bản chứng nhận đúng mã túi và đúng cấp độ định mua, vì chứng nhận gắn với từng kết cấu chứ không gắn chung cho cả dòng sản phẩm.

Dùng túi khí chèn hàng có lợi gì?

Lợi ích lớn nhất là giảm hàng hư hỏng, kéo theo giảm chi phí bồi thường, xử lý hàng lỗi và giữ uy tín với người mua. Túi lấp kín khe trống mà thanh gỗ hay xốp khó lấp đều, và lực ép phân đều trên một mặt phẳng rộng thay vì dồn vào vài điểm như thanh chèn.

Túi khí chèn hàng giấy Kraft xếp chồng, có van bơm
Túi giấy Kraft trước khi dùng: gấp phẳng, nhẹ, đặt vào khe rồi mới bơm.

Lợi ích thứ hai là nhanh. Đặt túi và bơm mất ít thời gian hơn so với cắt, đóng thanh gỗ hay chèn xốp, nên rút ngắn thời gian đóng container ở kho và bãi. Túi cũng gọn và nhẹ, không phải cưa đóng tại chỗ, không để lại đinh hay dăm gỗ.

Lợi ích thứ ba là dùng lại được với túi PP dệt: xả khí, gấp lại, gửi về hoặc dùng cho chuyến sau nếu vỏ và van còn nguyên. Doanh nghiệp có luồng hàng quay vòng ổn định giữa hai kho sẽ thấy rõ khoản tiết kiệm này. Túi giấy thường dùng một lần, nhưng tháo ra gọn và nhẹ hơn nhiều so với thanh gỗ chèn.

Câu hỏi thường gặp về túi khí chèn hàng

Túi khí chèn hàng dùng để làm gì?

Túi khí chèn hàng dùng để lấp khoảng trống giữa các kiện hàng hoặc giữa hàng với vách container, xe tải, toa tàu, rồi bơm căng để ép chặt khối hàng. Nhờ đó hàng không xô dịch, nghiêng đổ hay va đập vào nhau khi phương tiện phanh, vào cua hoặc gặp sóng.

Túi khí chèn hàng có tái sử dụng được không?

Có, chủ yếu với túi vải PP dệt: xả khí và dùng lại khi lớp vỏ và van còn nguyên, không rách. Túi giấy Kraft thường dùng một lần vì giấy giảm độ bền sau khi bị nén và ẩm. CTU Code cũng tính hệ số an toàn thấp hơn cho túi tái sử dụng (0,5 so với 0,75).

10 - 30 cm
Khe dùng túi AAR cấp 1 loại tiêu chuẩn (Union Pacific, 4 - 12 inch)
30 - 60 cm
Khe dùng túi loại vuông, lót thêm tấm giấy tổ ong (12 - 24 inch)

Nên chọn túi khí cấp độ (Level) nào?

Với hàng đi toa tàu ở Bắc Mỹ, chọn theo cấp AAR: cấp 1 cho khe ngang hàng intermodal, cấp 2 tới cấp 4 theo tổng khối lượng hàng trong toa (75.000, 160.000, 216.000 lbs), cấp 5 cho cuộn giấy nằm ngang. Với đường biển và đường bộ, chọn túi có sức chặn lớn hơn lực hàng tác động theo cách tính của CTU Code.

Túi khí chèn hàng có bị nổ không?

Túi bơm đúng áp suất khuyến nghị rất ít khi nổ, vì áp suất nổ cao hơn áp suất làm việc khoảng ba lần theo bảng cấp độ trong catalogue của ICD Việt Nam (cấp 1: 0,2 bar làm việc, 0,6 bar nổ). Nguy cơ tăng khi bơm dư áp suất, khi container nóng lên mạnh, hoặc khi túi bị cạnh sắc cứa.

Ba câu cần trả lời trước khi đặt túi
Khe trống rộng bao nhiêu và nằm ở đâu (giữa hàng hay sát cửa)? Hàng đi đường bộ, biển hay lên toa tàu? Hàng có cạnh sắc hoặc cần dùng lại túi không? Có ba thông tin này là chọn được loại, kích thước và cấp độ.

Túi khí có dùng được cho mọi khoảng trống không?

Không. Mỗi kích thước túi có khe tối đa do nhà sản xuất quy định. Khe quá hẹp thì túi không phồng đủ, khe quá rộng thì túi phồng tròn và mất diện tích ép. Ví dụ hướng dẫn của Union Pacific dùng túi cấp 1 tiêu chuẩn cho khe 10 đến 30 cm và túi vuông cho khe 30 đến 60 cm, kèm tấm đệm giấy tổ ong khi khe trên 30 cm.

Túi khí chèn hàng có bị cạnh sắc làm thủng không?

Có thể, nhất là túi giấy Kraft khi gặp cạnh pallet gỗ, đai thép hay kiện kim loại. Nên lót tấm carton, tấm giấy tổ ong hoặc tấm đệm ở điểm tiếp xúc nhọn, và với hàng cạnh sắc thường xuyên thì chuyển sang túi vải PP dệt.

Giá túi khí chèn container bao nhiêu?

Giá phụ thuộc vật liệu (giấy Kraft hay PP dệt), kích thước, cấp độ và số lượng đặt. ICD Việt Nam báo giá theo từng đơn: bạn gửi kích thước khe, loại hàng và số container mỗi tháng để nhận báo giá phù hợp.

Liên hệ tư vấn túi khí chèn hàng

ICD Việt Nam cung cấp túi khí chèn hàng giấy Kraft, túi vải PP dệt, túi khí chèn thùng carton và súng bơm. Gửi cho chúng tôi kích thước khe, loại hàng và tuyến vận chuyển; đội ngũ tư vấn sẽ đề xuất loại túi, kích thước và cấp độ phù hợp. Giá: liên hệ báo giá.

Công ty TNHH Sản xuất Công nghiệp ICD Việt Nam

Nguồn tham khảo

ICD Việt Nam cam kết trao giá trị vượt trội đến Quý khách hàng.

Các đối tác - Khách hàng - Nhà cung cấp

Zalo ICD Việt Nam