Skip to content
Bài Viết Pallet Gỗ

Gỗ tràm bông vàng thuộc nhóm mấy? Đối chiếu QĐ 2198-CNR và TCVN 12619-2

18/10/2026 - Ly Huyền

Gỗ Tràm bông vàng thuộc nhóm mấy và có thực sự là một lựa chọn tốt cho các sản phẩm gỗ?

Gỗ tràm bông vàng thuộc nhóm mấy? Đối chiếu QĐ 2198-CNR và TCVN 12619-2

Nội dung được ICD xem xét và cập nhật - Tuần 42/2026

Gỗ tràm bông vàng (keo lá tràm, Acacia auriculiformis) thuộc nhóm IV theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12619-2:2019, với khối lượng riêng 0,59 g/cm³ và độ bền uốn tĩnh 101 MPa. Bảng 8 nhóm gỗ theo Quyết định 2198-CNR năm 1977 không có tên loài này; các cây mang tên “tràm” trong bảng đó là những loài khác, xếp nhóm V hoặc VI. Đây là gỗ dùng tốt cho pallet và đồ gỗ phổ thông, nhưng cần sấy, tẩm vì độ bền tự nhiên chỉ xếp loại kém bền.

Nhóm IV
Xếp nhóm của keo lá tràm theo TCVN 12619-2:2019
0,59 g/cm³
Khối lượng riêng gỗ keo lá tràm trong TCVN 12619-2:2019
Trên 70%
Tỷ lệ lõi gỗ trong thân cây keo lá tràm (PROSEA)

1. Gỗ tràm là gì?

Gỗ tràm dùng làm pallet và đồ gỗ là gỗ tự nhiên khai thác từ cây tràm bông vàng (keo lá tràm), một loài keo thuộc họ Đậu (Fabaceae); khác với cây tràm gió, tràm cừ thuộc chi Melaleuca, họ Sim (Myrtaceae). Đây là cây trồng rừng phổ biến tại Việt Nam, sinh trưởng nhanh và chịu được đất xấu, nên gỗ của nó có mặt trong nhiều ngành từ đóng gói công nghiệp đến đồ gỗ và nguyên liệu giấy.

Đầu các thanh gỗ xẻ xếp thành kiện, thấy rõ vân và màu gỗ
Gỗ keo lá tràm có dác màu vàng và lõi nâu nhạt đến nâu đỏ; màu thanh gỗ xẻ thay đổi theo tỷ lệ lõi và dác.

1.1 Nguồn gốc và đặc điểm sinh học của cây tràm bông vàng

Theo PROSEA (Tài nguyên thực vật Đông Nam Á), keo lá tràm mọc tự nhiên ở bắc Australia, tây nam Papua New Guinea và Indonesia, sau đó được trồng rộng rãi khắp vùng nhiệt đới châu Á. Trong điều kiện thuận lợi, cây cao tới 30 m, đoạn thân không cành dài tới 12 m, đường kính khoảng 50 cm; cây trồng thường thấp hơn, thân cong và nhiều cành.

Tên gọi “tràm bông vàng” đến từ cụm hoa dạng bông dài 7 - 10 cm, màu vàng óng, thơm; mùa hoa rộ thay đổi theo từng vùng trồng. Thứ người ta quen gọi là lá thực chất là cuống lá dẹt (diệp thể), cong hình lưỡi liềm, dài 10 - 16 cm. Cây thường ra hoa sau khoảng 2 năm, và PROSEA ghi nhận rừng trồng lấy gỗ thường được khai thác ở tuổi 10 - 12 năm.

6 - 12 m
Chiều cao keo lá tràm sau 3 năm trong điều kiện thuận lợi (PROSEA)
10 - 12 năm
Tuổi khai thác thường gặp của rừng trồng lấy gỗ (PROSEA)

1.2 Gỗ tràm thuộc nhóm mấy?

Gỗ tràm bông vàng thuộc nhóm IV theo TCVN 12619-2:2019. Nếu tra bảng 8 nhóm gỗ theo Quyết định 2198-CNR năm 1977 sẽ không thấy tên loài keo này. Trong văn bản đó, loài có tên đúng là “Tràm” (Melaleuca leucadendron, thường gọi tràm cừ, tràm lá hẹp) xếp nhóm VI; ngoài ra còn tràm sừng (Eugenia chanlos) và tràm tía (Syzygium sp.) cùng xếp nhóm V. Ba loài này đều không phải tràm bông vàng. Một số tài liệu trên mạng ghi gỗ tràm “nhóm IV, số thứ tự 57” theo Quyết định 2198-CNR; đối chiếu toàn văn thì số 57 là loài “Tràm” Melaleuca leucadendron trong danh sách nhóm VI, không phải nhóm IV và cũng không phải keo lá tràm.

Nhóm IV trong TCVN là nhóm gỗ có khối lượng riêng trung bình, chịu lực khá so với khối lượng và dễ gia công. Riêng độ bền tự nhiên (khả năng chống mối mọt, nấm) của keo lá tràm được tiêu chuẩn xếp loại kém bền, nên gỗ cần sấy, tẩm trước khi dùng. Gỗ có nguồn cung trong nước ổn định nên phù hợp sản phẩm công nghiệp và dân dụng.

Hai hệ thống phân nhóm đang được nhắc tới cho kết quả khác nhau, vì bảng năm 1977 ra đời trước khi keo được trồng đại trà ở Việt Nam. Bảng dưới đây đối chiếu các loại gỗ hay bị nhầm tên với nhau.

Tên thường gọi Tên khoa học QĐ 2198-CNR (1977) TCVN 12619-2:2019 Khối lượng riêng (TCVN)
Tràm bông vàng (keo lá tràm) Acacia auriculiformis Không có trong danh mục Nhóm IV 0,59 g/cm³
Keo lai A. mangium x A. auriculiformis Không có trong danh mục Nhóm IV 0,57 g/cm³
Keo tai tượng Acacia mangium Không có trong danh mục Nhóm IV 0,58 g/cm³
Tràm cừ (tràm lá hẹp) Melaleuca leucadendra Nhóm VI (ghi là “Tràm”) Nhóm IV 0,73 g/cm³
Tràm sừng Eugenia chanlos Nhóm V Chưa đối chiếu Chưa đối chiếu
Tràm tía Syzygium sp. Nhóm V Chưa đối chiếu Chưa đối chiếu
Cao su Hevea brasiliensis Nhóm VII Nhóm IV 0,55 g/cm³

TCVN 12619-2:2019 do Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam biên soạn, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố. Tiêu chuẩn chia gỗ thành 6 nhóm (nhóm quý hiếm và nhóm I đến V), lấy khối lượng riêng làm tiêu chí chủ đạo, kết hợp độ bền nén dọc, uốn tĩnh và độ bền tự nhiên. Bảng 8 nhóm cũ vẫn được dùng quen trong mua bán gỗ, nên khi đọc “gỗ nhóm mấy” cần hỏi rõ đang theo hệ thống nào.

QĐ 2198-CNR (1977): 8 nhómTCVN 12619-2:2019: 6 nhómNhóm INhóm IINhóm IIINhóm IVNhóm VTràm sừng, tràm tíaNhóm VITràm (Melaleuca)Nhóm VIICao suNhóm VIIINhóm Quý hiếmNhóm INhóm IINhóm IIIThông ba lá, thông nhựaNhóm IVKeo lá tràm 0,59 | keo lai 0,57 | keo tai tượng 0,58Tràm Melaleuca 0,73 | cao su 0,55 (g/cm³)Nhóm VTràm bông vàng (keo lá tràm, Acacia auriculiformis): không có tên trong QĐ 2198-CNR, nhóm IV theo TCVN
Cùng gọi là “tràm” nhưng là các loài khác nhau: bảng 1977 chỉ có các loài tràm bản địa, còn tràm bông vàng chỉ có nhóm trong TCVN 12619-2:2019. Sơ đồ: ICD Việt Nam tổng hợp từ hai văn bản.

2. Bảng phân nhóm gỗ Việt Nam và vị trí của gỗ tràm bông vàng

Trong bảng 8 nhóm gỗ, tràm bông vàng không có tên; vị trí nhóm IV của loài này đến từ TCVN 12619-2:2019, nơi keo lá tràm đứng cùng nhóm với keo lai, keo tai tượng, bạch đàn và cao su.

Bảng phân loại tạm thời ban hành kèm Quyết định 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ Lâm nghiệp chia gỗ tự nhiên thành 8 nhóm từ I đến VIII, dựa trên độ bền, độ cứng, màu sắc, vân thớ và giá trị sử dụng. Quyết định 334-CNR năm 1988 sau đó điều chỉnh xếp hạng một số loài, chẳng hạn sao đen từ nhóm III lên nhóm II. Danh mục không có loài keo nào; văn bản ghi rõ loài chưa có trong bảng thì địa phương đề xuất để bổ sung.

Pallet gỗ do ICD Việt Nam sản xuất đặt trên nền xưởng
Pallet gỗ do ICD Việt Nam đóng tại xưởng. Quy cách và loại gỗ của dòng Pallet gỗ tràm xem trong trang sản phẩm.

Đi từ trên xuống, nhóm I gồm các loài gỗ quý như gụ, cẩm lai, trắc, pơ mu; nhóm II có đinh, lim xanh, nghiến, sến mật, táu mật. Nhóm III là gỗ bền, dẻo như chò chỉ, chò chai, tếch. Nhóm IV có mỡ, re gừng, thông ba lá; nhóm V có thông nhựa, xà cừ cùng tràm sừng, tràm tía. Nhóm VI là gỗ phổ thông như bạch đàn, xoan đào và loài “Tràm”; nhóm VII có cao su, còn nhóm VIII là gỗ nhẹ, mềm như bồ đề, gáo, vông.

Nhóm càng nhỏ thì gỗ càng quý, vân đẹp, bền nhưng hiếm và đắt. Gỗ dùng đóng pallet và bao bì công nghiệp tại Việt Nam chủ yếu là gỗ rừng trồng như keo, bạch đàn, cao su, cộng thêm gỗ thông nhập khẩu, nên phần lớn nằm ở nhóm IV đến VII của bảng cũ hoặc hoàn toàn không có tên trong bảng.

Cách tra nhóm gỗ đúng
Xác định tên khoa học của loài gỗ trước, sau đó đối chiếu với danh sách loài trong Quyết định 2198-CNR hoặc TCVN 12619-2:2019. Tên thường gọi như “gỗ tràm” có thể chỉ nhiều loài khác nhau, nên không dùng tên gọi để tra nhóm.

Tại sao keo lá tràm nặng hơn vẫn ở nhóm IV?

Keo lá tràm có khối lượng riêng 0,59 g/cm³, cao hơn mức thường gặp ở nhóm IV, nhưng TCVN 12619-2:2019 vẫn xếp vào nhóm này. Lý do nằm ngay ở tiêu chí của tiêu chuẩn: gỗ có khối lượng riêng lớn hơn quy định của nhóm IV nhưng không đạt yêu cầu của các nhóm trên về tính chất kỹ thuật, có độ bền tự nhiên kém hoặc là cây gỗ trung bình, giá trị kinh tế không cao thì vẫn xếp nhóm IV. Keo lá tràm được ghi là kém bền, nên không lên được nhóm III như thông ba lá (0,71 g/cm³) hay thông nhựa (0,67 g/cm³).

Theo TCVN 12619-2:2019, tràm bông vàng (nhóm IV) có khối lượng riêng và độ bền uốn tương đương gỗ keo lai - hai loại gỗ chủ lực để sản xuất pallet gỗ tại Việt Nam. Bảng dưới là số liệu của các loài nhóm IV hay gặp trong ngành pallet.

Loại gỗ (TCVN 12619-2:2019, nhóm IV) Khối lượng riêng Nén dọc Uốn tĩnh Độ bền tự nhiên
Keo lá tràm (tràm bông vàng) 0,59 g/cm³ 46 MPa 101 MPa Kém bền
Keo lai 0,57 g/cm³ 42 MPa 101 MPa Kém bền
Keo tai tượng 0,58 g/cm³ 43 MPa 99 MPa Kém bền
Tràm cừ (Melaleuca) 0,73 g/cm³ 63 MPa Chưa có số liệu Chưa có số liệu

Số liệu trên cho thấy ba loại keo gần như ngang nhau khi xét trên mẫu chuẩn; chênh lệch thực tế giữa các lô gỗ phụ thuộc tuổi cây, vùng trồng và độ ẩm khi đóng pallet nhiều hơn tên loài.

3. Các loại gỗ tràm phổ biến

Ba loại thường được gọi chung là “gỗ tràm” gồm tràm bông vàng (một loài keo, họ Đậu) và hai loài tràm thuộc chi Melaleuca họ Sim là tràm gió, tràm trà; chỉ tràm bông vàng được dùng phổ biến để đóng pallet.

3.1 Gỗ tràm bông vàng

Gỗ khai thác từ cây tràm bông vàng (Acacia auriculiformis). Theo PROSEA, dác gỗ màu vàng, lõi nâu nhạt đến nâu đỏ sẫm, thớ thẳng, mặt gỗ mịn đến trung bình và thường có vân đẹp. Lõi gỗ chiếm trên 70% thể tích thân và được PROSEA xếp loại khá bền, nên ít bị mối mọt hơn phần dác gỗ màu vàng; gỗ không chứa tinh dầu như các loài tràm họ Sim.

Gỗ dễ gia công, đánh bóng đẹp, nhưng ván có xu hướng nứt khi xẻ. Ngoài pallet, gỗ được dùng làm đồ nội thất, ván lạng, cột nhà, gỗ xẻ khổ nhỏ và đặc biệt là nguyên liệu giấy.

490 - 840 kg/m³
Khối lượng riêng gỗ keo lá tràm ở độ ẩm 15% (PROSEA)
Tới 30 m
Chiều cao cây trong điều kiện thuận lợi (PROSEA)

3.2 Gỗ tràm gió

Gỗ khai thác từ cây tràm gió (Melaleuca cajuputi). Gỗ các loài tràm chi Melaleuca khá nặng, chắc (TCVN 12619-2:2019 ghi khối lượng riêng 0,73 g/cm³ với loài tràm lá hẹp), nhưng thân thường nhỏ và cong nên ít được xẻ thành ván. Tinh dầu tràm gió được sử dụng rộng rãi trong y học.

3.3 Gỗ tràm trà

Cây tràm trà (Melaleuca alternifolia) được trồng để cất tinh dầu tràm trà cho ngành mỹ phẩm và y tế. Chúng tôi không tìm thấy loài này trong bảng 8 nhóm của Quyết định 2198-CNR hay trong số liệu khối lượng riêng của TCVN 12619-2:2019, nên bài không đưa ra nhóm gỗ cho tràm trà.

Tràm bông vàng
Một loài keo, họ Đậu. Gỗ dùng đóng pallet, đồ nội thất, ván lạng, nguyên liệu giấy.
Tràm gió
Chi Melaleuca, họ Sim. Trồng chủ yếu để cất tinh dầu, thân nhỏ.
Tràm trà
Chi Melaleuca, họ Sim. Nguồn tinh dầu tràm trà cho mỹ phẩm, y tế.

4. Gỗ tràm bông vàng được dùng làm gì nhiều nhất?

Gỗ tràm bông vàng được dùng nhiều để làm nguyên liệu giấy, gỗ xẻ khổ nhỏ và pallet gỗ. Theo PROSEA, gỗ keo lá tràm rừng trồng được dùng rộng rãi cho bột giấy và gỗ xẻ nhỏ; trong ngành pallet, đây là một trong các loại gỗ rừng trồng trong nước được dùng cùng keo lai, keo tai tượng, bạch đàn và cao su.

Chồng pallet gỗ xếp ngoài kho
Pallet gỗ để ngoài trời cần kê cách nền và che mưa; gỗ keo kém bền tự nhiên sẽ xuống cấp nhanh nếu bị ẩm lâu.

Gỗ tràm bông vàng được chọn cho pallet vì những lý do có thể kiểm chứng sau:

  • Chịu lực khá so với khối lượng: độ bền uốn tĩnh 101 MPa, ngang keo lai (TCVN 12619-2:2019).
  • Nguồn cung dồi dào: cây trồng rộng rãi trong nước, khai thác ở tuổi 10 - 12 năm (PROSEA).
  • Dễ gia công, đóng đinh và xử lý nhiệt theo ISPM 15 như các loại gỗ rừng trồng khác.

Điểm cần lưu ý là gỗ không tự chống ẩm hay chống mối mọt: TCVN 12619-2:2019 xếp độ bền tự nhiên của keo lá tràm là kém bền, và dác gỗ màu vàng dễ bị côn trùng tấn công. Vì vậy pallet gỗ tràm dùng trong kho lạnh hay môi trường ẩm cần được sấy khô và xử lý trước, không nên kỳ vọng gỗ tự bền. Giá pallet phụ thuộc quy cách, độ ẩm gỗ và yêu cầu xử lý, nên ICD Việt Nam báo giá theo bản vẽ và số lượng cụ thể.

Hai điểm cần lưu ý khi đặt pallet gỗ tràm
PROSEA ghi nhận ván keo lá tràm có xu hướng nứt khi xẻ, và dác gỗ màu vàng dễ bị côn trùng tấn công. Khi đặt hàng nên yêu cầu loại thanh nứt đầu, sấy về độ ẩm dưới 20% và với hàng xuất khẩu phải xử lý, đóng dấu IPPC theo ISPM 15 qua đơn vị được cấp phép.

Nhìn theo từng tiêu chí: về độ đặc và chịu lực, gỗ tương đương keo lai và keo tai tượng nên hợp hàng nặng và pallet dùng nhiều lần. Về độ bền tự nhiên, lõi khá bền nhưng dác dễ bị mọt, nên cần sấy, tẩm hoặc xử lý nhiệt. Về gia công, gỗ dễ làm nhưng ván dễ nứt khi xẻ, cần loại thanh nứt đầu trước khi đóng. Về hình dáng thân, cây trồng hay cong, nhiều cành nên khó chọn thanh dài cho dầm pallet khổ lớn.

5. Vì sao nhóm gỗ không quyết định hoàn toàn chất lượng pallet?

Nhóm gỗ chỉ phản ánh đặc tính tự nhiên của loài cây, không phản ánh chất lượng thành phẩm pallet. Một chiếc pallet gỗ tràm nhóm IV vẫn có thể bền hơn pallet làm từ gỗ nhóm cao hơn nếu được xử lý đúng cách, vì chất lượng cuối cùng phụ thuộc vào khâu chế biến chứ không chỉ ở việc gỗ “nhóm mấy”.

Cận cảnh các thanh gỗ xẻ xếp chồng
Thanh gỗ xẻ cần được loại bỏ thanh nứt đầu, cong vênh trước khi đóng pallet.

Ba yếu tố quyết định độ bền pallet thực tế là độ khô của gỗ, cách xử lý chống mối mọt và nấm mốc, và kết cấu lắp ghép. Gỗ tươi có độ ẩm rất cao; Wood Handbook của Phòng thí nghiệm Lâm sản Hoa Kỳ (USDA) cho biết gỗ ở độ ẩm dưới khoảng 20% thì nấm mục khó phát triển, nên nan pallet thường được sấy về dưới 20% để hạn chế mốc, cong vênh và lỏng đinh.

Kiện gỗ xẻ đã sấy xếp cao tại bãi gỗ
Gỗ xẻ được sấy và xếp kiện có thanh kê trước khi đưa vào đóng pallet.

Vì vậy khi chọn pallet, thông số kỹ thuật và quy trình xử lý quan trọng hơn việc gỗ thuộc nhóm nào. Những điểm nên hỏi nhà cung cấp:

  • Độ ẩm gỗ khi đóng: dưới 20%, vì gỗ ẩm dễ mốc, co ngót làm lỏng đinh.
  • Cách xử lý gỗ: sấy nhiệt hoặc tẩm bảo quản; hàng xuất khẩu xử lý theo ISPM 15.
  • Độ dày ván mặt và khối kê: theo tải trọng hàng thực tế.
  • Loại đinh và số đinh: đinh xoắn hoặc đinh vòng, đủ số theo bản vẽ, vì pallet hỏng thường bắt đầu ở mối đinh.

6. Kết luận

Gỗ tràm bông vàng thuộc nhóm IV theo TCVN 12619-2:2019 và không có tên trong bảng 8 nhóm năm 1977; các loài “tràm” trong bảng cũ là tràm cừ (nhóm VI), tràm sừng và tràm tía (nhóm V). Gỗ chịu lực khá, ngang keo lai, nguồn cung trong nước ổn định nên được dùng nhiều để đóng pallet.

0,59 g/cm³
Khối lượng riêng keo lá tràm (TCVN 12619-2:2019)
101 MPa
Độ bền uốn tĩnh, ngang keo lai (TCVN 12619-2:2019)

Điểm yếu của gỗ là độ bền tự nhiên kém và ván dễ nứt khi xẻ. Pallet gỗ tràm bền hay không phụ thuộc vào việc gỗ được sấy về dưới 20%, xử lý đúng cách và đóng theo kết cấu phù hợp tải trọng, hơn là con số nhóm gỗ.

Câu hỏi thường gặp

1. Gỗ tràm bông vàng thuộc nhóm mấy trong bảng phân loại gỗ Việt Nam?

Gỗ tràm bông vàng (Acacia auriculiformis) thuộc nhóm IV theo TCVN 12619-2:2019; bảng 8 nhóm gỗ theo Quyết định 2198-CNR năm 1977 không có tên loài này. Nhóm IV là nhóm gỗ có khối lượng riêng trung bình, dễ gia công và nguồn cung ổn định.

Nhóm IV
TCVN 12619-2:2019
Không có tên
Trong bảng 8 nhóm theo QĐ 2198-CNR

2. Gỗ tràm bông vàng nhóm IV có làm pallet tốt không?

Có, với điều kiện gỗ được sấy và xử lý đúng. Gỗ chịu lực khá, ngang keo lai theo TCVN 12619-2:2019, và nguồn cung trong nước dồi dào; nhưng độ bền tự nhiên kém nên phải sấy về dưới 20% và xử lý trước khi dùng.

3. Gỗ tràm bông vàng và gỗ keo loại nào bền hơn?

Cả hai đều thuộc nhóm IV và có độ bền tương đương khi làm pallet: theo TCVN 12619-2:2019, độ bền uốn tĩnh của keo lá tràm và keo lai đều là 101 MPa. Tràm bông vàng nặng hơn một chút (0,59 so với 0,57 g/cm³), trong khi keo lai thường cho thân thẳng hơn. Độ bền cuối cùng phụ thuộc vào khâu sấy và xử lý của nhà sản xuất.

4. Gỗ tràm bông vàng có bị mối mọt không?

Có, nhất là phần dác gỗ màu vàng khi gỗ còn ẩm và chưa xử lý. Lõi gỗ chiếm phần lớn thân cây và khá bền, nhưng TCVN 12619-2:2019 vẫn xếp độ bền tự nhiên của keo lá tràm vào loại kém bền, nên pallet cần sấy khô, tẩm bảo quản hoặc xử lý nhiệt trước khi dùng.

Thanh gỗ bị sâu mọt đục lỗ
Gỗ để ẩm, chưa xử lý dễ bị sâu mọt đục lỗ, nhất là phần dác gỗ.
Sấy
Đưa độ ẩm gỗ về dưới 20% trước khi đóng pallet.
Tẩm hoặc xử lý nhiệt
Bảo vệ dác gỗ; hàng xuất khẩu xử lý theo ISPM 15.
Bảo quản khô
Kê pallet cách nền, tránh mưa và nơi đọng nước.

5. Gỗ tràm bông vàng bao lâu thì thu hoạch?

Theo PROSEA, rừng trồng keo lá tràm lấy gỗ thường được khai thác ở tuổi 10 - 12 năm; trong điều kiện thuận lợi, cây có thể cao 15 m sau 5 năm. Cây càng nhiều tuổi, đường kính thân và tỷ lệ lõi gỗ càng lớn, gỗ xẻ được thanh dài hơn.

6. Gỗ tràm và gỗ keo có phải là một không?

Gỗ tràm bông vàng là một loài keo (Acacia auriculiformis), nên về thực vật học nó là gỗ keo, nhưng khác loài với keo tai tượng (Acacia mangium). Keo lai là con lai tự nhiên hoặc nhân giống giữa hai loài này. Còn cây tràm gió, tràm cừ thuộc chi Melaleuca, họ Sim, hoàn toàn khác keo.

2 năm
Thời điểm cây thường bắt đầu ra hoa (PROSEA)
Trên 70%
Tỷ lệ lõi gỗ trong thân keo lá tràm (PROSEA)

7. Tràm sừng và tràm tía thuộc nhóm gỗ mấy?

Theo Quyết định 2198-CNR, tràm sừng (Eugenia chanlos) và tràm tía (Syzygium sp.) thuộc nhóm V; loài ghi là “Tràm” (Melaleuca leucadendron) thuộc nhóm VI. Cả ba đều không phải tràm bông vàng, nên không dùng nhóm của chúng để suy ra nhóm của gỗ keo lá tràm.

8. Pallet gỗ tràm xuất khẩu cần xử lý gì?

Pallet gỗ xuất khẩu phải được xử lý theo ISPM 15 bằng một trong các phương pháp được công nhận, phổ biến nhất là xử lý nhiệt (HT), và đóng dấu IPPC ở ít nhất 2 mặt đối diện. Việc xử lý và đóng dấu do đơn vị được cơ quan bảo vệ thực vật cấp mã thực hiện. Liên minh châu Âu cấm sử dụng methyl bromide trong nội khối từ 18/3/2010 nhưng vẫn chấp nhận pallet nhập khẩu xử lý HT hoặc MB đúng ISPM 15.

9. Pallet gỗ tràm có được bảo hành không?

Pallet gỗ tại ICD Việt Nam không áp dụng bảo hành vì gỗ là vật liệu tự nhiên, nhưng được đổi trả trong 7 ngày. Giá: liên hệ báo giá, chiết khấu theo số lượng.

Liên hệ tư vấn pallet gỗ tràm

Cần tư vấn chọn pallet gỗ tràm, gỗ keo hay gỗ thông theo tải trọng hàng và tuyến vận chuyển, hãy gửi chúng tôi kích thước, tải trọng, số lượng và thị trường xuất khẩu. ICD Việt Nam có xưởng sản xuất, kho Hà Nội và xưởng miền Nam; giá: liên hệ báo giá, chiết khấu theo số lượng. Pallet gỗ không áp dụng bảo hành, được đổi trả trong 7 ngày.

Công ty TNHH Sản xuất Công nghiệp ICD Việt Nam

Nguồn tham khảo

ICD Việt Nam cam kết trao giá trị vượt trội đến Quý khách hàng.

Các đối tác - Khách hàng - Nhà cung cấp

Zalo ICD Việt Nam